Quê Nam Một Cơi
Hồ Trường
An
Chương
Mười Ba
Vũ Nam, Kẻ
Lữ Hành T́m Kỷ Niệm Trên Các Vùng Đất Lạ
Qua Tập Truyện
“Một Đêm Ở Genève”
Chúng ta không khỏi ngạc nhiên khi bắt
gặp một bút tŕnh lột xác của Vũ Nam sau
đọc xong tập truyện Một Đêm Ở Genève. Cũng
vẫn là những truyện ngắn dựa trên t́nh yêu.
Cũng vẫn là những truyện ngắn săn t́m
kỷ niệm. Cũng vẫn là những truyện ngắn
thấp thoáng bóng dáng hiện thực xă hội. Nhưng
ở tập truyện này, văn phong và bút pháp anh biến
dạng một cách đáng ngạc nhiên, đánh dấu
một cuộc lột xác ngoạn mục. Đề tài
của anh tươi mát, sự diễn tả của anh
linh hoạt, khí hậu trong truyện không căng thẳng
và gay cấn. Đây là một thứ văn chương
tṛn trịa, óng chuốt, không làm độc giả nhức
đầu hay làm họ chán ngán ủ ê, thiếu
điều ngáp dă dượi hay ngủ gục trên từng
trang sách.
Ng̣i bút Vũ Nam từ quyển Một
Đêm Ở Genève cho đến khi anh cộng tác cho
những tạp chí văn học hàng đầu Gió Văn
qua các truyện ngắn đăng trên đó biểu
dương một phong độ khởi sắc, dám
thọc sâu vào những nhân sinh quan kỳ đặc. Đă
vậy, Vũ Nam c̣n cho độc giả chúng ta thấy
luôn cả sự t́m ṭi tuyệt vời của anh
đối với cái bí ẩn của con người.
Môi
Ngữ có mùi mặn, dù không có gió biển nơi chàng vàThiên
đang đi. Cũng không có nước mắt. Đâu ai
dễ đổ nước mắt cho một chuyện t́nh
đă qua mười tám năm? Cũng không ai tốn
nước mắt cho chuyện văn nghệ văn
gừng đă muời lăm năm chưa kết nụ.
Môi Ngữ có mùi mặn có lẽ v́ tính t́nh Thiên. Bây giờ
nàng trở nên cứng cỏi quá! Đất Mỹ
mười mấy năm đă làm nàng trở nên cứng
cỏi, từng trải? Thiên đă không c̣n vẻ nồng
nàn yếu mềm ngày xưa. Suy nghĩ lại, Ngữ
thấy nhiều khi chính ḿnh đă không thực tế, không
nắm bắt những đổi thay. Nhắm mắt
một giây, như nuốt vội những chuyện không
vui ở trần thế, Ngữ muốn biến ḿnh cho
nhanh chóng trở thành một lâu đài nào đó đứng
sừng sững trên đồi núi cao ở miền trung Âu
Châu. Đứng sừng sững với những ngạo
mạn riêng và những kỳ bí riêng cho một thời
đă từng là thành quách của những vị chúa tể
một vùng. Đầu ngất ngưởng đội
trời cao, tay đưa lên bắt mây trắng bay qua, dưới
chân đạp lên những tên du khách lục đục kéo
lên đồi để chiêm ngưỡng ḿnh. Lâu đài
chắc chắn không có ǵ để sợ. Nhưng sau ư
tưởng nhân cách hóa mơ hồ ấy, Ngữ lại
sợ những khám phá bên trong lâu đài sẽ làm cho
những người khách uất nghẹn v́ những
tầm thường đă chứa đựng bên trong. Có ǵ
bên trong lâu dài hay chỉ c̣n lại là những thanh đao
kiếm và áo giáp sắt của những thời đại
cổ xa xưa. Có ǵ bên trong những nhà thơ, như ư
tưởng đẹp bên trong Thiên đang có, hay như là
những thanh kiếm và những chiếc áo giáp sắt loang
lổ mà người trông nom phải lo chùi bóng mỗi ngày
để làm vui ḷng những du khách sắp bước chân
vào lâu đài để thăm viếng?
Những
mộng mơ bao giờ cũng đi xa và đi ra ngoài
những cuộc đời chân thật và tầm
thường. Rốt cuộc con ngựi vẫn cố
chạy theo những hư ảo ngoài tầm tay, mà quên
đi những điều thiết thực cho cuộc
sống. Tấm tranh đẹp và bài thơ hay sẽ không
c̣n đẹp và hay khi chúng ta không cho nó một mái che
nắng che mưa và những ngăn tủ kín đáo
để bảo tồn, sau khi tác giả đă tung nó vào
cho giới thưởng ngoạn, bao gồm kẻ thanh cao
và người ô trọc. Đời sống của họa
sĩ ở Paris trong quyển Of Human Bondage của Somerset
Maugham lúc c̣n tại thế th́ ngày nay người Việt
ḿnh không mấy c̣n ai dám sống như vậy nữa.
Ngữ thấy ḿnh đă hành động không theo suy nghĩ
của ḿnh. Chàng sống hiện tại theo cái cá tính
mạnh mẽ của người đàn ông, nhưng
lại có luồng gió từ đâu mang về trong ḷng
một nỗi niềm lo âu bất chợt... (các trang 49, 50, 51)
Những nhà văn gốc Nam Kỳ ở
hải ngoại có khả năng đem nhân sinh quan vào
văn chương không phải là hiếm hoi đâu.
Kiệt Tấn, Ngô Nguyên Dũng, Anh Vân, Trần Long Hồ,
Trần Nghi Hoàng... (nam), Phan thị Trọng Tuyến,
Nguyễn thị Ngọc Nhung, Trần thị Kim Lan...
(nữ). Và măi tới Nơi Cuối Ḍng Sông và vài truyện
ngắn trong Một Đêm Ở Genève, Vũ Nam mới
bắt đầu lên đường, đào sâu tác phẩm
ḿnh bằng những nhân sinh quan thật khởi
hứng.
Doăn Quốc Sĩ với bộ
trường giang tiểu thuyết Khu Rừng Lau,
Nguyễn Mộng Giác với bộ trường giang Mùa
Biển Động có xen lác đác vài nhân sinh quan rất
phổ thông, không đặc sắc lắm, thỉnh
thoảng lại có chêm vô vài ḍng tả cảnh lưa
thưa. Cho nên chúng ta xót xa mà nghĩ rằng: tại sao
cuộc tiêu khổ kháng chiến của dân Nga chống Hoàng
Đế Nă-phá-luân Đệ Nhất trong War and Peace
của Léon Tolstoi, chỉ hơn một năm với
gươm súng tầm thường, thế mà sau khi
đọc tác phẩm của nhà đại văn hào này,
chúng ta hết muốn đọc tác phẩm của Doăn
Quốc Sĩ và tác phẩm của Nguyễn Mộng Giác
nữa. Nên nhớ: cuộc chiến tranh Đông
Dương giữa Pháp và Việt Minh trong Khu Rừng Lau
với vũ khí văn minh và kéo dài gần 10 năm, c̣n
cuộc nội chiến Quốc Cộng trong Mùa Biển
Động với vũ khí tối tân hơn nữa và kéo
dài gần 15 năm. Như thế, họ Doăn và họ
Nguyễn có nhiều chất liệu tuyệt vời cho tác
phẩm hơn Léon Tolstoi chứ. Nhưng tác phẩm của
họ vẫn không phải là loại kiệt tác. Tiểu
thuyết trường giang của họ chỉ
đọc được thôi và chỉ dành cho các phê b́nh gia
có kiến thức bị giới hạn nếu không
bảo là eo hẹp v́ chưa quen hoặc chưa có khả
năng đọc tác phẩm có tư tưởng
(triết học, tâm linh) như hai phê b́nh gia Nguyễn
Hưng Quốc, Nguyễn Vy Khanh... Có phải bút giả HTA
có căn tính nộ lệ, thấy cái ǵ của
cường quốc cũng ưu việt hơn cây nhà lá
vườn chăng? Có phải bút giả có tinh thần
vọng ngoại hết thuốc chữa chăng? Không
đâu. Chúng ta nhận thấy một điều không
thể chối căi rằng, đại văn hào Nga là
một chiến sĩ, rành rẻ về trận mạc và
về cuộc đời cầm vũ khí đánh giặc.
Trong khi đó, họ Doăn chỉ là một cán bộ trong
cuộc kháng chiến chống Pháp chứ không phải là
một bộ đội khi tham dự các trận mạc
chống với binh sĩ Liên Hiệp Pháp. C̣n họ
Nguyễn chỉ là nhà giáo, dân tháp ngà, nh́n bên ngoài qua khung
cửa hẹp và chỉ biết cuộc chiến Quốc
Cộng qua đống tài liệu trong sách vở báo chí. Hơn
nữa, Léon Tolstoi chăm sóc từng chi tiết quyển
truyện, ít khi để phần kể chuyện húng
hiếp phần văn chương của tác phẩm.
Nghệ thuật tả cảnh tỉ mẩn và chi ly
của Léon Tolstoi đẹp mê hồn. Lại thêm, chẳng
những ông cho mỗi nhân vật một nhân sinh quan cá
biệt mà c̣n cho 3 nhân vật chánh là Bá Tước Bézoukhov,
Hoàng Thân André Bolkonski, Quận Chúa Maria Bolkonski tư duy
về tâm linh, tôn giáo và những vấn đề siêu h́nh.
Đằng này, ông Doăn và anh Nguyễn diễn tả cẩu
thả, và lười lĩnh trong việc phơi bày tâm
trạng các nhân vật, huống chi dám động tới
vấn đề tâm linh siêu h́nh vốn là hai lănh vực mà
họ mù tịt. Nên nhớ, khi viết bộ Khu Rừng
Lau, Doăn Quốc Sĩ chưa t́m hiểu về Phật giáo,
nhất là chưa nắm bắt được pháp môn
Thiền học.
Chúng ta hăy nghe tiếp Vũ Nam tŕnh bày nhân
sinh quan của ḿnh khi anh nhận định vè tâm trạng
và hoàn cảnh một nữ nhân vật:
Cuộc
sống nàng như thành phố Austin nằm dưới
lớp sương mù trong sáng nay khi Ngữ đáp phi cơ
để chuyển chuyến bay đi Cali. Nàng đâu có
biết, chỉ chừng cao độ hai ngàn mét nàng đă
thấy nắng ấm và vùng trời xanh dương
lồng lộng phía trên. Hóa ra con người vẫn và lúc
nào cũng có những điều ngoài tầm mắt, mà
triết lư một chút người ta gọi đó là sự
vô minh Nhưng đâu phải chỉ Thiên là như vậy mà
Ngữ trách nàng. C̣n chồng nàng và cả chàng không đang
cùng một lúc đang quay tṛn trong đám mây mù đang bay
thật thấp đó sao?
(trang 51)
* * *
Trong tác phẩm Một Đêm Ở Genève,
Vũ Nam tuy không chăm chút ở nghệ thuật miêu
tả (tả cảnh, tà người, tả vật,
tả tâm trạng nhân vật), nhưng anh vẫn không
bỏ sót vấn đề này. Có nhiều nhà văn mang
tiếng nhà văn đă thành danh (như Nguyễn Xuân Hoàng)
hay nhà văn lớn (như Nguyễn Mộng Giác) mà lại
viết những truyện ngắn cóc cần miêu tả.
Trong truyện ngắn Một Người Ngồi Trong
Ghế Bành, anh Hoàng không dựng được khung
cảnh xung quanh chiếc ghế bành. Trong truyện ngắn
Giếng Ước, anh Giác kể chuyện tuồn
tuột ở quán nước về đứa con gái
của ông ta. Như thế, hai anh rơi vào cái lối làm
văn chương bằng cách kể truyện mà Nguyễn
Ngọc Ngạn, Vơ Kỳ Điền đă từng làm.
Chúng ta thử đọc các tác phẩm của Hermann Hesse
(chẳng hạn cuốn Demian) hay các tác phẩm của
Dostoievski (qua các cuốn LIdiot, Les Possédés) th́ phần tả cảnh
hơi ít, nhưng không hề vắng bặt thiếu sót.
Ông Hesse lẫn ông Gide phải bận bịu giải bày
tư tưởng tâm linh hay những vấn đề khúc
mắc uyển chuyển như thái độ sống, nhân
sinh quan thấp thoáng tinh thần minh triết (giải phóng
toàn diện con người, khuynh đăo hoặc đặt
lại vấn tín ngưỡng, t́m chân lư ở chính ḿnh) nên
họ không có thời giờ đặt cái quan sát ngoại
giới các nhân vạt trong tác phẩm của họ. Họ
chỉ thích đặt cái nh́n vào trong đáy vực thẳm
thẳm của tâm khảm con người, vào cái bí
nhiệm của đời sống. Như thế, họ
có quyền lơ là ngoại cảnh và chỉ đem vài nét
tiêu biểu của ngoại cảnh vào văn chương
mà thôi. Đằng này hai anh Nguyễn chỉ viết
truyện tâm lư hoặc truyện có hơi hướm
truyện dị thường (conte extraordinaire) mà chỉ
kể chuyện thao thao, không chịu tả cảnh, tả
người. Như thế th́ hai truyện ngắn
thường thường bậc trung về giá
trị văn chương nghệ thuật như Giếng
Ước, Người Ngồi Trong Ghế Bành kia khó mà
lọt vào lănh vực văn chương, không t́m
được chút ǵ gỡ gạc hay cứu văn
được chúng lên cung bậc cao hơn. Và chắc
hẳn anh Hoàng chưa quên, dù viết truyện dị
thường nhưng nhà văn Mỹ Edgar Allen Poe vẫn
chăm chút tả cảnh.
Những nhà văn gốc Nam Kỳ ở
hải ngoại đa số chưa nắm bắt nhận
định minh bạch thế nào là viết văn, thế
nào là thuyết thoại; cho nên họ lười biếng
chểnh mảng việc mô tả. Nhưng bù lại,
họ kể truyện rất duyên dáng mặn nồng
như trường hợp Nguyễn Đức Lập,
NguyễnVăn Ba, Phượng Khánh, Phương Hoài Nam,
Tiểu Thu, chẳng hạn. Đó cũng là trường
hợp của Lê Xuyên. Có nhiều khi khung cảnh hoặc
tư liệu văn chương dù không được
xuất hiện trên những ḍng miêu tả, nhưng lại
hiển hiện ở những câu đối thoại. Riêng
Vũ Nam trong Một Đêm Ở Genève khung cảnh
được mô tả trong phút hồi ức của nhân
vật, chớ ít khi được mô tả ngay
trước mặt nhân vật khi nhân vật đóng vai tṛ
dự khán.
Ngày
bước chân vào xứ Đức trong mùa hè, buổi
chiều được vị giám mục đưa lên xe
hơi, đi dạo cảnh. Trời mát và hơi lạnh,
tôi thấy ḷng ḿnh rộn ràng với quang cảnh
đồng quê vùng Trung Âu này. Những đám ruộng,
đồng cỏ xanh ŕ, chạy lượn, uốn ḿnh
lên xuống, trong ánh nắng chiều vàng nhạt, cùng
cơn gió heo may. Những con ḅ Ḥa lan đứng nhơi
cỏ. Những căn nhà có mái đỏ tươi như
gạch cua chín... H́nh ảnh mà hai mươi mấy năm
ở quê nhà chỉ thấy qua sách báo và lịch treo
tường. Phút chốc thấy được h́nh
ảnh thật hỏi sao ḷng không nao nao hạnh phúc? Khi mùa
đông đến. Khi nhặt những bông tuyết rơi
thật sự đầu tiên trong đời, cứ y
như là được chiếc đồng hồ đeo
tay đầu tiên thuở cái tuổi mười hai lí
lắc, nhỏ dại. Nhưng dần dà khi mùa đông
về, và mỗi năm đều phải bắt buộc
nh́n lại bầu trời và quang cảnh mang màu ch́ và
trắng như bông g̣n, dù công nhận tuyết phủ
tuyệt đẹp trên các cành cây và từng cánh hoa dồng
cỏ nội, tôi cũng cảm thấy từ từ
được sự giá băng nào đó trông đời
sống ở đây rồi! Ngoại cảnh cùng ngay
cả trong tâm hồn.
(trang 92)
Trong mấy tác phẩm trước như
Nơi Cuối Ḍng Sông, Bên Ḍng Sông Donau.., Vũ Nam mô tả
rất nhiều khung cảnh Quê Huơng Nước
Ngọt, chốn sinh quán của anh. Nhưng trong tác phẩm
Một Đêm Ở Genève, anh thích mô tả khung cảnh
ở ngoại quốc, nơi anh định cư
(miền Tây Nam nước Đức) hay những nơi
anh đặt bước chân văn cảnh.
Xin đọc khung cảnh cổ thành trên
đảo Rodos và khung cảnh trên dỉnh núi Folimot xứ
Hy-lạp. Ở đây, nét tạo h́nh hiện trong nhăn quan
người viếng cảnh chỉ được
diễn tả bằng vài nét phát thảo sơ sài, nhưng
những đường nét tạo h́nh ấy
được xuất hiện trong các giai thoại, các câu
chuyện truyền kỳ nhiều hơn. Tuy nhiên, dù ǵ th́
dù, những khung cảnh dưới ng̣i bút anh vẫn làm xao
xuyến tâm tư người đọc.
... Cổ thành
rất rộng ở bên trong. Xem chừng dân cả
phường, cả xă có thể ở được. Các
lối đi đều rải lót bằng những viên
đá tṛn trịa, nho nhỏ, màu thẫm đen. Trong cổ
thành đầy những pḥng lớn nhỏ. Chắc là ngày
xưa, pḥng vua chúa, quan quân và cung tần mỹ nữ
đều được pḥng thủ chặt trong này. Và
hiện nay, hàng quán du lịch, cả những khu gái
điếm, đèn đỏ đèn xanh, cũng nằm
chật bên trong.
Lựa
một ngày có nắng, trời mát dịu, bạn đưa
tôi lên xem trên đỉnh núi Folimot. Đỉnh núi cao, có nhà
thờ lớn và cây thánh giá thật to. Từ đây nh́n
xuống sẽ thấy được một phần
lớn quang cảnh, phố xá của đảo Rodos. Nghe
nói, đôi t́nh nhân ngoại quốc nào du lịch đến
đây, nếu sắp đến ngày làm lễ hỏi,
sẵn dịp, họ đều lên trên ngôi thánh
đường cao trên đỉnh núi này để cử
hành cuộc lễ. Họ tin vào một phép mầu nào đó
ở đây, cho cuộc t́nh họ được muôn
đời bền chặt. Một niềm tin tốt
đẹp!
Tôi c̣n
nghe được bạn kể, ở Rodos vào tháng
bảy, ngày hè, có những vùng rộng lớn toàn là
bướm và bướm. Không biết tại sao, và từ
đâu chúng sinh ra, đổ về đây với muôn màu và
tung tăng bay lượn. Chắc là như những ngày
hội hay ngày Tết xứ ḿnh. Lễ Đền Hùng.
Đi Chùa Hương. Tết Nguyên Đán. Cũng đông và
mặc quần áo đẹp như vậy.
Ngoài
ra tôi c̣n nghe kể về làng treo cổ Kemmati, về
dấu tích của bức tuợng người đàn ông
trần truồng, thật khổng lồ, nếu không
bị động đất chôn vùi khoảng hai trăm
năm trước Tây lịch, có lẽ nó được
xếp vào một trong những kỳ quan của thế
giới. Và nghe nói Rodos cũng đă từng bị
động đất chôn vùi, và sau đó lại nổi
lên.
Ngày
cuối cùng trước khi lên phi cơ về lại
Đức vào chín giờ đêm, tôi đi dạo phố
một lần cuối. Nắng vàng rực rỡ trong ngày.
Chóp ngôi thánh đường đạo Hồi ngất
ngưỡng, nhưng cô đơn, trong xóm vắng
người Thổ. Những hàng cá mực tươi rói
được dựng lên dă chiến bên đường
để bán cho khách văng lai. Những chiếc xe lên
xuống đồi phản chiếu đầy những
ánh nắng như kim tuyến. Hôm ấy nắng thật
đầy, khung cảnh thật ấm, nhưng vẫn
gợi trong tôi nỗi ngậm ngùi, tự nhủ với
ḷng rằng nơi đây cũng là nắng ấm, nhưng
ấm sao bằng nắng ấm Quê hương...
(các trang 97, 98)
* * *
Một Đêm Ở Genève gồm 11
truyện ngắn gồm có dăm ba truyện t́nh, vài
truyện hiện thực. Nhưng bài Đoản Văn Cho
Quê Hương Và Cho Luyến cùng bài Nắng Nơi Đây
Cũng Là Nắng Ấm không có cốt truyện dồi dào
biến động như các truyện ngắn, nhưng
với lối hành văn đẹp, gợi trong ấn
tượng độc giả những h́nh ảnh buồn
man mác, chúng có thể thăng hoa và hóa thân thành những bài
thơ đẹp bằng văn xuôi.
* Nắng Đây Cũng Là Nắng Ấm nói
lên chuyến du lịch của tác giả trên đảo
Rodos của xứ Hy-lạp, một xứ có niều
đảo nhất thế giới. Đây là một bài du kư
nho nhỏ nói lên chí phấn đấu lập nghiệp
của người bạn tác giả. Khi thoát ly khỏi
bức màn tre của Cộng Sản, đương sự
bắt buộc phải chọn Hy-lạp làm xứ sở
định cư mà đương sự không hề
biết tiếng bản xứ cùng phong tục, lối
sống và trạng thái tinh thần của dân Hy-lạp.
Vậy mà bây giờ đương sự đă là chủ
nhân tiệm ăn, có thể nói trôi chảy tiếng Anh,
tiếng Hy-lạp. Tuy nhiên tùy theo nhu cầu mùa du lịch,
đương sự có thể theo bước chân du khách
di chuyển từ đảo này sang đảo nọ trên
vùng biển Địa Trung Hải để mở nhà hàng
.
Xứ Hy-lạp nổi danh từ thời
Thượng Cổ có một nền văn minh rực
rỡ. Trong lănh vực văn chương, truyện
Thần Thoại Hy-lạp (La Mythologie Grecque) với một
ông Thượng đế giả tưởng Jupiter và các
vị thần giả tưởng như Nữ thần
Thiên hậu Junon, Nữ thần Nhục cảm Vệ
Nữ, Nữ thần Ḥa b́nh Hạnh phúc Minerve Nam thần
Thái dương Apollon, Nữ thần Thái âm Diane, Nam thần
Chiến tranh Mars, Nam thần Ngoai giao và Thương măi
Mercure, Tửu thần Baccus... Tất cả đều
ở trên Thiên cung tọa lạc tận tuyệt
đỉnh của núi Olympia. Dù là Thượng đế
hay thần tiên giả tưởng như Bà Chúa
Thượng Ngàn, Bà Chúa Đền Ṣng, Cô Ba Thoải
Phủ, ông Hoàng Bơ bên Việt Giáo ngoài đất Bắc
xứ ta, nhưng trong thói mê tín của dân Hy-lạp thời
Thượng Cổ, họ được sùng bái lập
đền thờ. Bây giờ trên đất nước
Hy-lạp hay trên các đảo nhỏ vẫn c̣n nhiều di
tích đền thờ các vị thần trong thần
thoại và truyền kỳ, tất cả đều
đổ nát, chẳng hạn như đền thờ
Athène (đền Nhă- diển) thờ nữ thần
Minerve.
Thần thoại cùng Thượng
đế và chư thần giả tưởng dù là bịa
đặt, dối láo nhưng tất cả kết hợp
thành cái nôi vĩ đại và diễm kiều cho các
nghệ sĩ đủ bộ môn nghệ thuật bên Âu
Châu và tràn qua Mỹ Châu. Ngày nay dân Hy-lạp theo đạo
Thiên Chúa Chính Thống (lOrthodoxe). Cho nên về phương diện
tín ngưỡng và tâm linh, họ không thích nhắc những
bậc siêu phàm giả tưởng ấy nữa.
Theo bước nhàn du của Vũ Nam,
độc giả chúng ta sẽ thấy xứ Hy-lạp
nghèo nàn, sống bằng nghề đón tiếp khách văn
cảnh trong những chuyến du lịch mà thôi. Nhưng
Rodos chỉ là một hải đảo trong vùng hải
phận của hai xứ sở thù ngịch là Hy-lạp và
Thổ-nhỉ-kỳ. Nhưng anh có thể viếng thăm
cổ thành, có thể sưởi nắng ấm và hứng
gió biển mát mẻ, có thể mường tượng
tới bươm bướm từng đàn bay về theo
lời người bạn của anh kể.
* Đoản Văn Cho Quê Hương Và Cho
Luyếntuy là một đoản văn về
phương diện h́nh thức, nhưng lại có tinh
thần và phong thái của một bài thơ bằng văn
xuôi. Các bạn nữ độc giả nào có tâm hồn
được tuới tẩm bằng cơn mưa
trữ t́nh, bằng hơi sương lăng mạn có thể
xem đây là một truyện t́nh với một cuộc t́nh
mới tượng h́nh mà chưa kịp thành h́nh để
rồi tan biến trong thời cuộc nhiễu
nhương.
Cốt truyện chẳng có ǵ hấp
dẫn đâu. Tác giả không cho độc giả biết
t́nh yêu của nhân vật xưng anh (có thể là tác giả) với cô
giáo tên Luyến xảy ra từ lúc nào. Nhưng khi từ Sài
G̣n về Bà Rịa trên chuyến xe đ̣, nhân vật
xưng anh đă gặp Luyến cưỡi xe đạp
ngược gió về tỉnh. H́nh ảnh đó ghi một
ấn tượng sâu đậm vào kư ức đuơng
sự.
Xe
chạy qua rồi anh c̣n cố gắng quay lại nh́n em. Và
chắc một điều là em không bao giờ thấy anh.
Xe chạy bằng máy nên nhanh quá, trong khi đó em phải
dùng sức để lăn chuyển bánh xe của
đời em th́ làm sao nhanh được. khi em từng
biết em là kẻ chân yếu tay mềm! V́ thế mà không
bao lâu sau đó em đă bỏ đất nước này,
bỏ thị xă nhỏ bé đó để lên
đường ra biển. Ngay chiều hôm ấy anh
muốn kêu người tài xế cho anh xuống để
cùng đạp với em trên quăng đường c̣n
lại, như anh đă từng ao ước
được đạp cùng với em những chông gai cho
cả cuộc đời của hai đứa ḿnh,
nhưng sao anh lại cứ ngập ngừng y như
ngập ngừng không dám nói lời cầu hôn với em, và
chiếc xe đạp cứ lao đi chứ có chờ
đợi ai đâu! Phải chi anh xuống để
đạp chở em đi một đoạn
đường, chắc có lẽ anh đă biết ư
định của em sẽ ra đi trong những ngày sau
đó. Dù sao th́ nếu biết trước anh vẫn
thấy đỡ xót xa hơn, ḷng đỡ quặn
thắt hơn.
(các trang 68, 69)
Đó là buổi gặp gỡ sau cùng
của cả hai. Nhưng Luyến không thấy
đương sự trong xe. Rồi Luyến vượt
biên. Sau đó đương sự cũng vượt biên.
Luyến định cư trên đất nước
Hợp Chúng Quốc, c̣n đương sự định
cư trên nước Đức. Nhưng suốt 18 năm qua,
mỗi lần viéng các tiểu bang đông đúc kiều
bào, đương sự có thể gặp dân vùng ven
biển Bà Rịa. Trong vùng đó có cái ấp sinh quán của
anh là ấp Nước Ngọt mà anh thường gọi
một cách âu yếm là Quê Hương Nước Ngọt
Nhưng không bao giờ anh gặp lại Luyến. Nàng
đâ trở thành bóng chim tăm cá trong cuộc đời
anh mất rồi!
* Những Áng Mây Ngày Cũ không phải là
một truyện ngắn mà là một đoạn hồi kư
tuổi thơ và tuổi hoa niên của tác giả lồng
trong cái bối cảnh vào thuở b́nh minh cuộc nội
chiến Quốc Cộng. Ở giai đoạn đầu,
gia đ́nh tác giả ở ấp Nước Ngọt
thuộc xâ Long Hải, một vùng bất an ninh mà có một
dạo dân chúng Miền Nam Việt Nam gọi là vùng xôi
đậu. Ông trưỏng ấp bị Việt Cộng
buộc phải bỏ chức trưởng ấp.
Nhưng ông ta không nghe lời bọn hắn nên bị
bọn hắn chém đầu. C̣n cha tác giả th́ bị
ở tù v́ tội bán nhu yếu phẩm cho Việt Cộng.
Vào lúc tác giả 7 tuổi, gia đ́nh anh phải bỏ
ấp sang định cư tại xă Long Hải, nơi
đây thuộc vùng được phe Quốc Gia kiểm
soát, nên tương đối an ninh hơn. Mẹ tác
giả phải bương chải buôn gánh bán bưng
để nuôi năm đứa con (bốn gái một trai).
Sau một năm ngồi khám, cha tác giả
được trở về với gia đ́nh, làm nghề
đi biển. Khi có vốn khá, ông mới mở tiệm bán
cà phê cho dân vùng biển. Và khi Phước Hải trở
thành vùng xôi đậu th́ bọn Việt Cộng đêm
đêm về thu thuế cư dân, bắt họ đi dân
công. Có người bị bắt đi luôn. Có kẻ
được cho về nhà, trong số người
được may mắn có một người chị
của tác giả.
Dù sống trong giai đoạn dầu sôi
lửa bỏng của một góc trời nhỏ bé
tưởng chừng như bị thế nhân lăng quên
ngờ đâu lại bị xáo trộn trong giai đoạn
nhiễu nhương của lịch sử, vậy mà tác
giả vẫn vui sống, hồn nhiên hưởng một
thời thơ ấu thơ mộng bên bờ vùng biển
mặn. Nhưng tai họa gia đ́nh chưa chấm
dứt đâu. Người chị thứ tư của anh,
một cô nữ sinh lớp Đệ Lục chết v́
chứng bịnh phong đ̣n gánh (người Bắc th́
gọi là sài uốn ván). Rồi cuộc sống lại
tiếp tục sau một thời gian tang tóc. Tác giả cùng
trẻ nít xóm giềng bày nhiều tṛ chơi hấp
dẫn, cùng dàn trận đánh lộn với lũ chăn
trâu. Trong khi đó, chung quanh họ thời cuộc tiếp
tục căng thẳng. Lại thêm một sự bất
hạnh. Người chị trưởng trong gia đ́nh
sinh một lượt ba đứa bé gái, nhưng chúng
chỉ là những hài nhi hữu sinh vô dưỡng.
Thời hoa niên của tác giả chấm
dứt khi anh học xong lớp Đệ Lục. Thế
là anh phải lên tỉnh Bà Rịa tiếp tục học
hành. Nhưng đất nước lại càng xảy ra
nhiều cơn khủng hoảng khi chiến tranh toàn
thể Miền Nam Việt Nam càng ngày càng gia trọng.
* * *
Những truyện ngắn trong Một
Đêm Ở Genève thường lấy đề tài
những người đàn ông chạnh nhơ t́nh xưa,
t́m về kỷ niệm bên cạnh người yêu
đầu đời. Kỷ niệm được gói
trong cuộc t́nh ít khi tạo cơ hội cho tác giả có
cái nh́n rộng lớn phóng chiếu lên cuộc sống
phồn tạp và đa dạng. Nhưng Vũ Nam vẫn
làm cho chúng ta bàng hoàng trước lớp sóng phế hưng
dâu bể kéo tràn lên lịch sử dân tộc ta để
chúng ta hoài niệm đến bài Thăng Long Hoài Cổ
của Bà Huyện Thanh Quan với hai câu thơ: Đá
vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt/ Nước
c̣n cau mặt với tang thương.
* Truyện ngắn cùng tựa với
tập truyện Một Đêm Ở Genève nói về mối
t́nh giữa nam nhân vật tên Thanh và nữ nhân vật tên
Phương lớn hơn Thanh 4 tuổi Thưở ấy
Thanh 15 tuổi nên Phương xem đương sự nhu
một cậu em ngoan. C̣n Thanh yêu nàng bằng mối t́nh
đơn phương thầm kín. Trong cuộc cắm
trại, Thanh được Phương cho ngủ chung,
Nhung rồi:
Nửa
đêm, không biết có phải từ giấc mơ, hay
một hành động vô t́nh Thanh ôm ấp chị
Phương trong người, bàn tay t́m kiếm... Khi
chị Phương tỉnh giấc, cậu bé cũng
chợt tỉnh từ cơn mơ. Từ đó, kể
từ đêm đó chị Phương không bao giờ nói
chuyện với Thanh nữa. Khi đi ngang qua nhà Thanh
chị chỉ cúi đầu để đi.
(trang 16)
Rồi đó, cả hai cùng bước vào
đời, dĩ nhiên chuyện cũ cũng đă bị
mài dũa hết những sần sượng gai góc,
những góc cạnh thô nhám và tác giả cho biết: ...
Mỗi
khi hai người gặp nhau, chị Phương làm
như đă quên chuyện cũ, chuyện tṛ đằm
thắm với Thanh như thuở nào. C̣n Thanh, lần
vuốt ve chị Phương trong đêm tối như
một vết thẹo. Vết thẹo đầu
đời, trần tục, đớn đau.
(trang 17)
Sau đó Thanh cưới vợ cùng trang
lứa với chàng. Chị Phương kết hôn với
một sĩ quan hải quân. Sau khi Mièn Nam Việt Nam rơi
vào tay Cộng quân miền Bắc, chồng chị
Phương bị đi học tập cải tạo,
chết trong tù. Thanh cùng vợ con vượt biển
truớc, sang định cư bên Tây Đức. C̣n chị
Phương vượt biên sau, được
người bạn chồng bảo lănh nên chị định
cư bên Thụy-sĩ. Chị kết hôn với
đương sự. Chị viết văn, xắn
từng mảnh đời khổ lụy của ḿnh
đưa vào tập truyện ngắn của ḿnh. Hôm
chị ra mắt sách có mời Thanh qua Thụy-sĩ tham
dự.
Sau đó, Thanh được vợ
chồng chị mời về nhà nghỉ ngơi. Tối
hôm đó vào lễ Quốc Khánh của nước Thụy-
sĩ, hai chị em cùng xem lễ đốt pháo bông. Chị
Phương kể lể chuyện đất nước
cùng chuyện gia đ́nh của ḿnh cho Thanh nghe.
Hôm sau, Thanh về nhà vào lối 10 giờ
tối, bắt gặp mọt cảnh tuợng kỳ thú:
... Cả nhà
đă đi ngủ. Chỉ cậu con trai mười
bốn tuổi c̣n thức, đang đứng bên cửa
sổ nhà nh́n xuống đường xem hai cô gái
Đức khoảng mười sáu tuổi đánh vũ
cầu. Trời mười giờ, trong mùa hè chưa
tối hẳn, nhưng đèn đường đă
được bật lên, ánh sáng đèn đường
vàng chiếu rọi xuống con suối bên cạnh nhà, phản
chiếu lại làm khung cảnh chơi của hai cô gái
đẹp lạ lùng. Cậu bé hơi ái ngại khi
thấy ba ḿnh bắt tại trận ḿnh
đang nh́n trộm hai cô gái. Thanh lại bắt gặp h́nh
ảnh ḿnh qua h́nh ảnh đứa con trai cách đây hai
mươi lăm năm. Nhưng ở dưới kia không
ai là chị Phương cả! Thanh mong sao con trai ḿnh
đừng có những mộng mị tầm thường
như ḿnh khi tuổi vừa mới lớn.
(trang 37)
Cái đề tài mối t́nh ngây thơ
của cậu bé trai đang độ hoa niên yêu cô thiếu
nữ lớn tuổi hơn ḿnh đă có nhiều nhà văn
khai thác rồi. Ở đây, tác giả Vũ Nam dàn dựng
một chị Phương có thái độ úp mở
cực kỳ quyến rũ. Chị có thực t́nh giận
Thanh sau đêm ngủ chung không? Hay chỉ là phản ứng
bề ngoài của cô thiếu nữ con nhà lễ giáo?
Cớ sao chị lại quay mặt lạnh nhạt với
Thanh lúc đầu để rồi sau đó ít lâu lại
đối xử với Thanh thật hồn nhiên thân ái
như thuở trước? Tác giả để
độc giả tự phán đoán lấy. Mỗi
người có một phán đoán riêng, một giải thích
riêng. Do đó truyện ngắn có một chiều sâu hun hút
và tâm hồn chị Phương có một chút bí mật
kỳ diệu riêng.
* Truyện ngắn Buổi Chiều Trên
Thành Phố Lạ cũng vẫn là một chuyện t́nh xa
xưa mà đôi t́nh nhân gặp lại nhau dưới
bầu trời nắng ấm Nam Cali. Sau khi đất
nước đổi cờ, cả hai cùng vượt
biên. Ngữ, nam nhân vật định cư bên
Thụy-sĩ, sính làm thơ, nhưng tác giả không
khẳng định nghề tay mặt của chàng là
nghề ǵ. Thiên, nữ nhân vật định cư ở
Nam Cali. Nàng là vợ một doanh thương khá giả. Nàng
phiền muộn v́ ông chồng không bao giờ t́m hiểu
nỗi niềm cô đơn của nàng. Cho nên nàng t́m sự
an ủi ở mối t́nh xưa qua sự trao đổi thư
từ với Ngữ. Tối hôm đó, nàng muốn chàng
nghỉ đêm ở nhà vợ chồng nàng. Nhưng
chồng Thiên có thể v́ ghen một phần, nhưng
cũng muốn cắt đứt những giây mơ rễ
má đang vướng víu loạn xạ trong trái tim của
Thiên nên bảo Ngữ:
-- Từ lâu tôi
đă có đọc đưọc thư từ qua lại
của anh và nhà tôi, dù nhà tôi cố
giấu. Lúc đầu th́ tôi hơi ghen, nhưng thú thật
với anh rồi từ từ tôi thấy không có ǵ
để ghen tức nữa. Nhà tôi cứ sống trong
mơ mộng. Gặp anh cũng là người mà theo tôi
chỉ biết mộng mơ. Nhà tôi âm thầm chê tôi là
người kém hiểu biết hơn nàng, th́ ắt
hẳn phải khen anh. Nhưng anh đến đây rồi
anh mới thấy. Ở Mỹ không chỉ khư khư ôm
chuyện mơ mộng, chuyện văn chương làm
lẽ sống. Phải thực tế một chút chứ!
Con cái đă lớn rồi. Nhưng cái tôi không ngờ là anh
cũng cố gắng ghé thăm vợ tôi, trong khi đáng
lẽ anh không nên ghé thăm. Có ích lợi ǵ? Đúng như
trong thư anh hay viết hai chữ phù phiếm. Đúng, anh
phù phiếm lắm! Hôm nay tôi về trước một
giờ là để muốn cho anh một bài học. Có
thể chuyện viết thư tôi dở hơn anh, nhưng
chắc chắn là tôi không mơ mộng lẩm cẩm
như anh đâu. Vợ của người khác mà các anh
cũng đem ḷng thương nhớ mới thật là
kỳ. Những mối t́nh thời học sinh ai lại
không có, bao giờ lại không đẹp. Nhưng
đừng có lấy nó để làm tan hoang hạnh phúc
hiện tại của kẻ khác...
(các trang 52, 53)
Cái t́nh ư ẩn giấu sau lưng mặt
chữ của câu chuyện là cái mơ mộng phù ảo
đẹp lộng lẫy chạm trán với cái thực
tế cứng cỏi, thô tháp và phũ phàng. Cái bạc
nhược làm sao chống chọi nổi với cái thô
cứng? Cho nên Ngữ đành trở về khách sạn mà
chàng đă thuê pḥng trước khi t́m gặp Thiên. Chàng không
hờn chồng Thiên, chỉ giữ lại trong kư ức
ḿnh giọt nước mắt của Thiên vào phút
đầu tiên gặp chàng.
* Truyện ngắn T́m Lại Hư Không là
tryện t́nh thơ mộng ở 4/5 câu chuyện. Phần
c̣n lại là câu chuyện có thể là quái dị mà cũng có
thể là nói lên cái ám ảnh hay cái tự kỷ ám thị
của nam nhân vật chính.
Truyện rằng từ Âu Châu (tác giả
không nói rơ nước nào) Đạt qua Houston (tiểu bang
Texas) rồi đến tiểu bang Florida để t́m
Xuyén, người t́nh cũ của chàng khi cả hai c̣n
ở Bà Rịa. Đây cũng là dịp chàng t́m một
cuộc t́nh mà đoạn cuối lại có cảnh ly tan.
Xuyến có chồng một sĩ quan Hải Quân, để
rồi sau khi Cộng Sản cưỡng chiếm Miềm
Nam Việt Nam, cả hai (Đạt và Xuyến) lạc loài
nhau, mỗi người định cư trên một
đất nước riêng trong bốn phương
trời hải ngoại. T́m người yêu cũ vẫn là
vấn đề then chốt trong cuộc bút tŕnh của
Vũ Nam. Nhưng sau lưng những nhân vật thường
có bối cảnh Bà Rịa lót nền và chung quanh họ
nổi bật biết bao kỷ niệm của ngày xưa
thân ái, của cuộc t́nh đầu đời thơ
mộng trong vùng trời nước bao la:
Thị
xă nhỏ bé Bà Rịa lại trở về với
Đạt. H́nh ảnh Xuyến lại trở về.
Những con đường nhỏ có lá me bay. Với Pḥng
Thông Tin đầy én lượn. Thị xă tí hon nầy
như một nhịp cầu cho khách nhàn du trong những
ngày cuối tuần khi từ thành phố Sài G̣n muốn
đi về tắm biển Vũng Tàu, Long Hải. Khách nhàn
du qua rồi lại, đến rồi đi, chớ ít có
ai để ư hay nhớ ǵ đến nó một khi đă
đi qua. Và chỉ ai có lớn lên trong cái thị xă bé
nhỏ này, khi xa nó mới nhớ đến nó. Cũng
giống như ai đă từng lớn lên ở Vũng Tàu,
Nha Trang th́ khi xa lại nhớ về miền thùy dưong
cát trắng, có sóng biển nhấp nhô, với Ḥn Chồng,
với Cầu Đá...; ai đă ở Đà Lạt mới
nhớ đến những đồi thông, thác
nước, bầu trời buổi sáng ẩm ướt
mù sương... C̣n Đạt và Xuyến chắc khi
nhớ đến Bà Rịa duy chỉ c̣n nhớ
đến những con đường nho nhỏ, những
hàng quán im ĺm, thơ mộng, thậm chí có một vài hàng
quán trông tồi tàn với những ngọn đèn trong
đêm hiu hắt: tiệm hủ tiếu, quán chè, quán cà phê,
và những con đường, công sở, tàn cây, ngôi
trường học..., đâu đâu trong thị xă vẫn
nổi hằn nét nhỏ nhắn, b́nh dị, êm đềm.
(trang 151)
Tại một thành phố biển của
tiểu bang Florida, Đạt và Xuyến vừa dạo
chơi vừa ôn chuyện cũ. Nhưng khi tới chỗ
người câu cá sát ven tựng, Xuyến giục chàng
rời khỏi ngay. Nàng kể luôn, cũng tại chỗ
này, nàng đă xô chồng ḿnh xuống biển lởm
chởm đà để giết chết chồng.
Thế rồi trong chuyến trở về
nhà, Đạt chớt thấy một cảnh tượng
quái dị:
Đạt
đâm ra sợ như không c̣n muốn ngồi gần bên
Xuyến nữa. Trong bóng đêm giờ Đạt
tưởng tượng ra chắc gương mặt
Xuyến bây giờ mang vẻ hung tợn lắm. Với
giọng nói có âm hưởng cộc cằn, dữ tợn.
Chàng v́ uất ức, dù là sợ nhưng cố làm gan
để hỏi Xuyến cho ra lẽ:
-- Nhưng tại sao em lại
giết Tường?
-- Tại ảnh đào hoa quá!
Hết cô t́nh nhân này, đến cô t́nh nhân khác. Tại v́
ảnh đă phụ bạc em. -- Té ra mọi chuyện
cũng chỉ v́ t́nh. Nhưng em có thể xin ly di kia mà.
-- Thôi bỏ chuyện cũ
đi. Chuyện dông dài. Ly dị với không ly dị.
Trời đă khuya rồi. Hay bây giờ anh muốn
xuống lại biển?
-- Thôi cô! Tôi sợ biển
rồi!
-- Ha...ha... ha.
Giọng
cười Xuyến, Đạt nghe sao lảnh lót!
Chiếc
xe bỏ cảnh biển ban đêm sau lưng. Đến
một khúc quanh, đường không c̣n một ánh đèn,
trong xe tối như đêm ba mươi, Đạt quay qua
thấy người ngồi bên cạnh ḿnh bây giờ không
phải là Xuyến nữa, mà là Tường. Rơ ràng là
Tường. Mặt đầy máu me. Đạt ú ớ la
lên.
(các trang 164, 165)
Đây là một truyện ngắn tuyệt
vời trong những truyện ngắn hay nhất của
Vũ Nam. Nhưng nó làm cho chúng ta bàng hoàng dao động tâm
tư nếu không bảo là thảng thốt kinh dị
ở đoạn cuối. Đứng chung với các
truyện ngắn êm đềm, buồn bă và thơ mộng
khác, nó có vẻ lạc loài thế nào ấy! Có lẽ anh nên
xếp nó vào cuốn tập truyện khác gồm toàn
những truyện dị thường (contes extraordinaires)
hay truyện quái dị (contes fantastiques) th́ đúng chỗ
hơn.
* Truyện ngắn Những V́ Sao Lạc nói
về cái đam mê của ông Tham đối với một thiếu phụ trẻ
đẹp người Đức tên Himmel. Số là Himmel,
Tâm và ông Tham cùng làm việc trong hảng Hugo. Cả ba
đều có gia đ́nh. Nhưng Himmel có tánh đong
đưa, bắt t́nh với Tâm cùng trang lứa với
nàng. Tâm thạo khoa ăn nói, thạo viết thư t́nh
rất mùi mẫn du dương. C̣n ông th́ nhút nhát. Himmel có
một cuộc sống song đôi (double vie) rất kỳ
lạ. Xin đọc :
... Lúc ở nhà
Himmel xứng đáng là một người vợ,
người mẹ, ai cũng nói như vậy. Trong
hảng nàng có tiếng là người nữ công nhân
tốt, siêng năng và đầy trách nhiệm. Nhưng
nếu là người t́nh trong đêm họp mặt
cuối năm vui chơi trong hăng, hay những đêm về
nơi quán vắng cùng những bạn đồng
nghiệp, mà trong đó có hiện diện một bóng người
t́nh th́ sao ? Mọi người đều cho rằng Himmel
rất tuyệt vời trong tất cả các vai, và v́
thế nếu nàng có bị chồng ghen th́ ít hay nhiều
cũng có cái lư do của nó !
Nàng
yêu Tâm, Tâm yêu nàng, cả hai đều biết, ai ai trong hăng
cũng đều biết, dù họ có lén yêu nhau. Nhưng
nàng sẵn sàng lả lơi liếc mắt đưa t́nh
ngay với một người đàn ông đồng
nghiệp nào đó, nếu ông ta hoặc anh ta tỏ ra quá si
mê nhan sắc nàng, ngay cả trước mặt Tâm hoặc
các xếp lớn. Đến đỗi đôi khi Tâm c̣n
phải tâm sự với ông Tham, nàng có quyền yêu bất
cứ ai nếu nàng thích, ḿnh có phải chồng nàng đâu
mà ghen...
(các trang 136, 137) ...
Nghe
Tâm kể, lúc anh c̣n làm việc ở đây, đă có lần
anh rủ Himmel đi Paris chơi trong hai ngày cuối
tuần, nhưng nàng không bằng ḷng. Nàng nói với Tâm : Tôi
rấr sợ đi xa như vậy v́ ông xă tôi ghen ! Chúng
ḿnh chỉ yêu nhau trong giới hạn ! Cũng như Tâm
đă thất vọng khi hẹn sẽ gặp Himmel vào
một ngày hè nào đó trên bờ biển ở đảo
Kreta của Hy-lạp, v́ theo Himmel đó là một sự
phiêu lưu mạo hiểm cho Tâm, cả cho nàng. Tâm vội
bỏ Đức Quốc, bỏ Himmel, mang vợ con
đoàn tụ với cha mẹ ở Úc theo diện di dân
như thể trốn chạy những lời trêu ghẹo
có thể xảy ra của bạn đồng nghiệp
trong hăng. Hoặc trước sau ǵ mọi việc rồi
cũng đến tai người vợ đă cùng chung với
ḿnh vui buồn, chăn gối trong gần mười
năm qua.
(các trang 138 ; 139)
Tâm bỏ đi, rồi Himmel cũng
đổi chỗ làm v́ tiếng đồn bất lợi
lan rộng trong hăng. Ông Tham chuẩn bị ve văn nàng,
thường đến thăm nàng ở một siêu
thị mà nàng làm việc với chức vụ bán hàng.
Lần sau cùng, khi nàng tan việc trong ngày, ông rủ nàng
đi uống cà phê th́ nàng hẹn hôm khác. Nhưng...
...
Trước khi chia tay, như một sự lợi dụng
mơ hồ, ông nắm vội bờ vai Himmel, để
đôi má hơi nhăn nheo của ḿnh lên đôi môi hồng
hào son phấn của nàng. Nàng chấp nhận thật an
nhiên với nụ cười thật tươi. Có
thể nàng xem đó như một nụ hôn từ giă, hay
một dấu hiệu mối t́nh vừa chớm nở.
Nhưng cùng lúc ấy cặp đèn xe của người
nào sáng hoắc rọi thẳng vào hai người đang
đứng. Một người đàn ông Đức to lớn
bước xuống xe và tiến lại phía hai
người. Himmel nói nhỏ : mein Mann ! Chồng tôi ! Ông tham
chỉ c̣n kịp nghe người này nói với ông một
câu : Ông T..T..a..a..m, tôi nghe đến ông lâu rồi nay có
dịp gặp ! Chào ! Hẹn tái ngộ! Sau đó chồng
Himmel nắm tay Himmel dẫn nàng đi khuất vào bóng
đêm. Ông Tham không nhận ra kịp chồng Himmel đă kêu
tên ông hay tên Tâm. Trong đời, chưa bao giờ ông thấy
đêm nào trời lạnh như đêm nay ! Trên trời, mùa
đông không có sao, nhưng ông thấy h́nh như có một v́
sao vừa băng.
(trang 146)
Người Âu Châu hay Hoa Kỳ đều
gọi tên Tâm và tên Tham bằng Tham như nhau. Ở đây,
có lẽ Himmel thường hay nhắc nhở Tâm hoặc nhắc
nhở ông Tham hay nhắc nhở cả hai trước
mặt chồng ḿnh, coi như nhắc nhở những
người đồng nghiệp, thế thôi. Sau khi vợ
chồng Himmel đi khuất, ông Tham có thể nghĩ
rằng ḿnh gỏ cửa gọi T́nh Yêu không đúng chỗ
v́ ḿnh t́m sai địa chỉ nên không tới gặp ngôi
đền T́nh Ái mà chỉ gặp nhà xác. Nhưng tác giả
lại cho biết, sau khi đặt má ḿnh kề đôi môi
Himmel, ông Tham lẫn Himmel bàng hoàng. Độc giả
cũng bàng hoàng theo họ. Ông Tham bàng hoàng v́ say t́nh. Himmel
bàng hoàng v́ lẽ ǵ không ai hiểu rỗ. Con độc
giả bàng hoàng v́ băn khoăn tự hỏi, cử
chỉ đột ngột của Ông Tham liệu có chinh
phục trái tim Himmel không? Hay là nàng cảm ứng
động t́nh trong giây phút ngắn ngủi để
rồi sau đó nàng lấy lại sự thăng bằng
cho chính ḿnh. Himmel không phải là gái cao sang quyền quư
hoặc có học vấn cao hay có tŕnh độ kiến
thức vượt bực hơn kiến thức các cô gái
thuộc thành phần trung lưu cấp thấp. Nàng không
nết na, khi ra khỏi nhà và khi tan sở là hiện nguyên
h́nh một phụ nữ thác loạn về t́nh dục (la
nymphomane) . Nàng có thể nhận biết mối t́nh si
của ông Tham mỗi lần ông đến thăm viếng
nàng. Nhưng nàng không tỏ thái độ ǵ ngoài sự ân
cần thân mật. Không ai có thể hiểu nàng cho nên không
ai có thể đoán đưọc số phận cuộc
giao du của cả hai sẽ có sắc thái ǵ khác hơn và
sẽ kéo dài được bao lâu. Hay tới đây cái
thọ mạng nó coi như chấm dứt ? Đây là
một kết cuộc lửng lơ con cá vàng rất thú
vị.
* * *
* Truyện ngắn Cuối Xuân là câu
chuyện thời đại. Mừng và Hà gặp nhau
ở Tiệp-khắc. Cả
hai cùng là lao nô, đồng hội đồng thuyền,
đồng thanh tương ứng nên yêu nhau. Trong khi
đó, Mới, hôn thê của Mừng ở quê nhà vẫn kiên
trinh đợi ngày chàng về sẽ kết hôn với ḿnh.
Ở khách địa, Mừng bị tai nạn xe cộ,
phải nằm nhà thương và khi xuất viẹn
được Hà ân cần săn sóc. Sau đó cả hai
từ Tiệp chạy sang Tây Đức khi bức
tường Bá-linh sụp đổ. Nhưng chánh phủTây
Đức phải trả chàng về Việt Nam, c̣n Hà
được ở lại v́ có người đàn ông
Đức cưới nàng làm vợ. Mừng về quê,
tưởng rằng Mới sẽ mừng ở cuộc
tái ngộ trùng phùng. Nhưng Mới bảo:
Chị
Hà nào đó có viềt thư cho tui ! Tui có ư định
gặp anh mới nói. Bây giờ tui rút lại lời
hứa hẹn của tui lúc truớc ới anh, để
anh yên tâm. Chị Hà nói chỉ lấy chồng Đức v́
việc riêng của chỉ, nếu hợp chỉ ở,
c̣n không chỉ sẽ xin ly dị. Khi đó chỉ sẽ
bảo lănh anh qua Đức đoàn tụ. Chỉ mong tui
nhường anh lại cho chỉ hoặc chờ chỉ v́
chỉ thật ḷng thương anh, có nhiều kỷ
niệm với anh từ lúc hai người c̣n ở
Tiệp lận. Tui thấy giải quyết như vậy
là tốt nhất. Đời sống của một
người như anh, ở đây rất khổ. Anh
biết ở đây, bây giờ mà ! Ở Đức c̣n
hơn. Tui quyết định là sẵn sàng hy sinh...
(trang 62)
Mừng có hai người t́nh tuyệt
vời. Cuộc đời dưới mắt Vũ Nam dù
có móng vuốt chông gai cũng được cái nh́n nhân
hậu của anh chà láng. Truyện th́ ngắn, phần
kể ruyện hơi lấn lướt phần miêu
tả, nhưng đọc đến đâu chúng ta
đều ngậm ngùi đến đó. Nhưng trong
nỗi dao động se sắt của tâm tư, ḷng chúng ta
dấy lên khúc hoan rộn ràng niềm tin yêu đối
với thế nhân nói chung đói với dân tộc ta nói
riêng.
Những truyện ngắn ở phân
đoạn trên lấy bối cảnh ở ngoại quốc.
Truyện ngắn Một Đêm Ở Genève lấy bối
cảnh ở Thụy-sĩ, c̣n những truyện ngắn
kia lấy bối cảnh tren đất nước
Hợp Chúng Quốc như Nam California, Texas, Florida...
Những truyện ngắn c̣n lại
lấy bối cảnh trên đất nước Việt
Nam. Nhưng truyện ngắn Cuối Xuân chỉ lồng
bối cảnh Việt Nam ở phần cuối, c̣n các
phần đầu lại lấy bối cảnh bên Tây
Đức. Tuy nhiên, các bối cảnh nầy không hiện
trước mắt độc giả bằng những nét
tạo h́nh. Nó chỉ được nhắc nhở ở
một vài câu sơ sài. Tác giả chỉ lo săn sóc
cốt truyện t́nh sao cho ướt át tâm sự, sao cho tâm
hồn nhân vật thêm cao thượng nên anh hơi rẻ
rúng phần miêu tả. Khi Mừng hồi hương
về nơi chôn nhau cắt rún, tác giả cũng không nói rơ
ở địa danh nào.
Xin cùng đọc đêm Mừng và Hà từ
biệt nhau, cùng ngắm những nét tạo h́nh trên bức
tranh vẽ băi đất trống, nơi hẹn ḥ của
cặp t́nh nhân ấy. Bức tranh được diễn
tả bằng lối phác thảo nguệch ngoặc
nhưng vẫn ghi sâu vào ấn tượng người
đọc v́ trong cảnh có t́nh, trong t́nh có lồng bối
cảnh :
...Tuyết
trắng xóa c̣n đọng cả khu vực. Xa xa đám
trẻ nhỏ Đức đang ồn ào với tṛ
chơi trượt tuyết. Nhưng nơi hai
người đang đứng thật yên tĩnh và
lạnh. Mừng nắm tay dẫn Hà vào nơi căn nhà
gỗ nhỏ nơi để trẻ em trốn những
cơn mưa bất thần. Lúc đầu anh chỉ
nghĩ nơi này kín đáo, dễ dàng cho hai người tâm
sự, nhưng khi vừa vào trong lều, như có sức
mạnh vô h́nh nào thật mănh liệt lôi kéo anh sa ngay vào thân
thể Hà. Anh để nụ hôn dài trên môi cô. Anh hồ
đồ ham muốn v́ anh biết anh không c̣n dịp nào
nữa để gặp Hà khi cảnh sát Đức
đến trại chở anh đi ra phi trường trong
ngày mai như họ đă gửi giấy hẹn. Hà
đứng yên chấp nhận nụ hôn thật b́nh
thản, y như chấp nhận cuộc hôn nhân mới
trong nay mai khi Mừng rời khỏi đất
nước đầy sương tuyết này để
trở về vùng nắng ấm.
Rời
căn nhà gỗ, đêm ấy hai người cứ đi
lang thang ngoài đường dù trời đang lạnh
cắt da. Đi để mà đi chớ không có mục
tiêu. Gặp một cḥi tranh trong vườn ai họ
ngừng lại vào trong, rồi ôm nhau hôn hít, tṛ chuyện.
Sau đó hai người lại tiếp tục đi trên
những bờ ruộng. Càng xa đường xe chạy
càng tốt. Gặp những cuộn rơm, mặc dù chung
quanh đóng đầy tuyết, họ cũng ban sạch
tuyết rồi ngồi xuống dựa vào, lại
tiếp tục hôn hít, tṛ chuyện. Cảm giác họ
như là trời không bao giờ sáng, mặt rời sẽ
không lên, và đêm sẽ xuyên suốt. Trong đêm, những
âm thanh từ xa thỉnh thoảng vọng về nhưng
vẫn không kéo được hai người về
thực tại phũ phàng của ngày mai đang chờ
đón.
(các trang 60, 61)
* Truyện ngắn Gánh Chè Ngày Cuối
Năm nói lên tấm ḷng lưu luyến của người t́nh cũ. Thoa là cô gái
thuộc giai cấp b́nh dân, tuy muốn thành đào hát
cải lương, nhưng v́ không có tiền trả
học phí cho lớp đào tạo ca cổ nhạc nên
chị đành dẹp mộng đẹp qua một bên, cam phận
bán chè độ nhật. Thoa và Liêu yêu nhau. Trước ngày
30/4/1975 vài hôm, Liêu rủ Thoa vượt biên. Nhưng Thoa
từ chối.
Liêu
đă chạy đi Mỹ vào ngày hai mươi tám tháng
tư năm bảy mươi lăm. Ngày đó anh có
rủ chị nhưng chị nào có chịu đi. Đă
cưới hỏi ǵ đâu mà theo trai nhu vậy, ông bà già la
chết. Bác Sáu cũng biết việc của chị và con
trai bác, nên sau ngày đó mỗi khi gặp mặt, chị và
bác chào hỏi b́nh hường, nhưng đặc biệt
chị chưa bao giờ hỏi tin túc ǵ về Liêu, con
của bác. Chị coi đó là chuyện của quá khứ.
(các trang 79, 80)
Nhưng rồi sau 20 năm xa đất
nước, Liêu về quê nhà thăm mẹ, đem cả
vợ con theo để ăn một cái Tết đoàn viên.
Thoa bán chè đi ngang qua nhà bác Sáu. Vợ chồng và con cái
Liêu kêu mua chè. Thoa không nghĩ ngợi xa xôi ǵ hơn là bán
chè, không buồn tiếc v́ để lỡ cơ hội
theo Liêu sang Mỹ và để được làm vợ
Liêu. Nhưng Liêu lựa lúc vợ vắng mặt, tăng
100 Mỹ kim cho Thoa.
Năm sau Liêu không về xóm cũ ăn
Tết, nhưng anh không quên người t́nh đầu
của ḿnh. Cũng vào ngày cuối năm, Thoa gánh chè ngang qua
nhà bác Sáu, vẫn không nghe có tiếng ai gọi mua.
Thế
là cái hy vọng của chị đành tieu tan theo mây khói!
Chị lại cảm thấy mắc cỡ. Nghèo mà ham !
Chị tiếp tục gánh chè đi, đành bỏ nhà bác Sáu
lại sau lưng. Th́nh ĺnh bác Sáu từ trong nhà người
hàng xóm kế bên nhào ra chận đường chị
lại :
-- Thoa ! Chờ bác một chút ! Có
cái này cho cháu đây.
Chưa
hết giây phút ngạc nhiên, bác Sáu vừa vô nhà lại ra
ngay, trên tay có cầm cái bao thơ :
--
Đây, của thằng Liêu gởi cho cháu. Định
nhờ người mang qua nhà cháu th́ cháu tới. Thiệp chúc Tết...
lại có... Thôi, cháu mở ra rồi sẽ biết. Bác chúc
cháu vui vẻ trong năm mới nha. Bác phải vô ngay
để mấy bả khỏi chờ. Đánh tứ
sắc cho vui trong ba ngày Tết mà cháu.
Gánh
chè rời khỏi nhà bác Sáu, lựa một chỗ vắng
rồi chị Thoa mới dám đứng lại để
mở bao thơ ra coi. Chị hồi hộp quá chừng.
Bỗng nhiên chị hoa mắt bởi tờ giấy
bạc một trăm Đô mới tinh, được
kẹp trong tấm thiệp xuân màu mè xanh đỏ. Bên
cạnh một tờ giấy trắng nằm riêng, trong
đó có tuồng chữ của Liêu: Trong năm nay anh phải
về quê vợ để ăn Tết, ở Sa Đéc
lận! Anh có nghe ba má kể về hoàn cảnh của em
từ năm ngoái. V́ t́nh cũ nghĩa xưa, năm nay anh
lại gửi tặng em một trăm Đô để
ăn Tết. Chúc em năm mới nhiều vui vẻ
với chồng con. Anh Liêu. Người t́nh cũ.
(các trang 83, 84)
Trong truyện Gánh Chè Ngày Cuối Năm,
chúng ta cũng không biết nơi ăn chốn ở
của cô Thoa tại đâu. Có lẽ đó là chốn
thị thành sầm uất kẻ bán người buôn,
như thủ đô Sài G̣n hay như tỉnh lỵ nào
hoặc như quận lỵ nào đó.
Chuyện nghĩa cũ t́nh xưa
thường làm cho độc giả ngậm ngùi, man mác,
nhất là phải đẹp phải thủ sẵn
khăn mù-soa để lau nước mắt. Nhưng
nếu tác giả gán cho Thoa cái tâm trạng lưu luyến
t́nh xưa th́ câu chuyện rập khuôn với mọi tác
phẩm văn chương theo ư t́nh hai câu ca dao: Tóc mai
sợi ngắn sợi dài / Lấy nhau chẳng đặng
thương hoài ngàn năm. Đằng này, chị ta
chỉ nghĩ tới bán hết nồi chè và
được tặng tiền. Cuộc sống thiếu
thốn vật chất biến đổi con người
có tâm t́nh gọn gàng đơn giản như thế sao?
Nhân vật Thoa không làm cho độc giả
phải tốn công xót xa ai hoài lâu lắc đậm đà.
Nhưng chúng ta vẫn buồn bă v́ lư do: chế độ
xô đẩy dân tộc nghèo đói, nên mài dũa khá
nhiều nhân phẩm con người hà huống chi tâm
sự, t́nh cảm của thời yêu đương hoa
mộng cũ. Nhân vật Liêu xuất hiện trước
gánh chè chỉ nói chuyện với vợ và nháy mắt
với Thoa. Nhưng trong khi ăn chè, anh buồn bă xót xa.
Thái độ đó cùng bức thư kèm theo tờ giấy
100 Mỹ kim và tấm thiệp xuân cũng đủ giúp
độc giả vui vẻ ăn Tết nếu truyện
Cuối Xuân này được đăng trên bất cứ
tờ đặc san Xuân nào. Qua truyện ấy, Liêu
chiếu sáng trong tâm tư độcgiả một
người t́nh tuyệt vời. Nhân vật này xuất
hiện th́ ít, chỉ được nhắc nhở loáng
thoáng đôi ba ḍng trong câu chuyện kể, nhưng anh làm cho
toàn thể truyện ngắn có không khí nồng nàn ấm
cúng như nhang khói đêm giao thừa.
*Truyện ngắn Những Cánh Chim Di
lại là câu chuyện t́nh buồn.Tác giả lấy bối
cảnh quận Cai Lậy (thuộc tỉnh Mỹ Tho).
Không hiểu có phải là vào năm nào mà nơi đây
bắt đầu lột xác, cảnh đồng không mông
quạnh đổi thành nơi thị tứ mới.
Xe
lại qua những con đường cũ mà ngày xưa
vận đă có lần đi qua. Bây giờ đă
đuợc sửa sang, rộng hơn và đổi khác.
Những ngày xưa, trên con đường này là
đồng ruộng và gió chiều man mát, bây giờ
đầy ngập cửa nhà, có cả những nhà máy to
lớn, chạy ầm ĩ. Đất nước vươn
ḿnh và dân số cũng tăng theo dữ dội! Ở
cuối đường khác, ngày xưa là những
vườn chuối thỉnh thoảng xen lẫn với
những cánh rừng chồi, cỏ cây hoang dại, nay
cũng đầy những mái nhà. Buổi trưa hè nơi
đây vẫn oi nồng, ḷng đường vẫn
đầy bụi khi có một chiếc xe hơi chạy
qua.
(các trang 125, 126)
Tại Cai Lậy này, sau khi đất
nước Miền Nam Việt Nam bị bọn giặc
cờ đỏ miền Bắc bạo chiếm, Vận
theo vợ người Việt gốc Hoa về đây làm
vườn. Nhưng vợ anh lại bỏ chồng và hai
con (một trai một gái) đi vượt biên theo diện
bán chính thức. Anh vẫn an phận gà trống nuôi con,
không hề phiền trách vợ. Nhưng rồi, anh lại
tự ḿnh đưa ḿnh vào một ngả rẽ mới:
Vận
đă ghé thămTính khi nghe tin chuyện chồng vợ nàng
găy đổ. Ban đầu, anh không có ư định hàn
gắn một cuộc t́nh đă qua đi hơn hai
mươi năm. Anh chỉ ghé thăm v́ nghĩ rằng
dẫu thế nào th́ Tính cũng là cô gái đă bước
vào đời anh với những đêm thao thức v́
những giấc chiêm bao đầy h́nh ảnh của nàng.
Lần đến thăm này trong đầu Vận mang ư
nghĩ để cám ơn cô gái đă cho anh những
giấc ngủ đầy mộng mị nhưng êm
đềm của thời mới lớn. Bạn bè nói không
sai. Chồng Tính đă đi Mỹ từ tháng tư bảy
mươi lăm, để lại cho nàng một
đứa con. Măi đến giờ vẫn không bảo lănh
Tính đoàn tụ, v́ thế mà nàng vẫn c̣n ở một
ḿnh nuôi con gái đang học trung học.
(trang122)
Vậy là bắt đầu một cuộc
t́nh muộn màng giữa hai kẻ cô đơn và bất
hạnh trong t́nh yêu lẫn trong hôn nhân. Tuy nhiên, Vận
lại được tin vợ của anh ở
nước Pháp muốn bảo lănh hai con qua Pháp đoàn
tụ với nàng. Anh không biết tính sao cho phải. Anh
cũng toan hỏi Tính làm vợ, nhưng sau đó th́
cuộc diện lại xoay chiều, hoàn cảnh lại
lượn qua một khúc quanh khác:
Một
tuần sau Vận gọi điện thoại lại nhà
Tính. Không gặp Tính, chỉ gặp má nàng. Không biết là ư
nghĩ của ai, chỉ biết rằng Vận đă nghe
rơ ràng giọng nói từ má Tính:
-- Con
Tính nhờ tôi nói với cậu là đừng t́m nó nữa!
Nó vừa nhận được tin là chồng nó sẽ về Việt
Nam trong mùa hè tới để bảo lănh hai mẹ con nó
đi Mỹ.Thôi, chào cậu!
Nghe
xong Vạn thấy tim ḿnh như ngừng đập, ḷng
bồi hồi. Nhưng sau ít phút, b́nh tĩnh lại chàng
thấy vậy mà hay. Chàng không từng ao ước cho
cuộc đời Tính được tốt đẹp
hay sao. Giờ nàng sắp được những
điều tốt đẹp tại sao Vận lại
không mừng cho nàng. Cuối cùng rồi Vận cũng
thấy như đă từng thấy trong bao năm nay,
cứ ai sắp có tin được phép rời khỏi
đất nước này để ra đi ở luôn
ở ngoại quốc th́ đó là niềm vui vô cùng vô
tận cho họ. Họ sẵn sàng bỏ tất cả
những ǵ c̣n ở lại nơi đây để chỉ
ra đi, huống hồ ǵ những chuyện t́nh cảm
lăng nhăng nhỏ mọn. Bây giờ th́ chính chàng
cũng bắt được chiếc ch́a khóa để
giải quyết vấn đề ḿnh. Chàng sẽ
để hai con ra đi đoàn tụ với mẹ chúng,
để hai con được ḥa ḿnh vào ḍng sống bao la
đầy niềm vui của nhân loại. Riêng chàng, chàng
sẽ sống suốt cuộc đời c̣n lại
của ḿnh trên đất nước này và cố sống
vui, v́ chàng nghĩ đó chẳng qua là sốphận đă
an bài.
(các trang 130, 131)
Nếu chúng ta bắt gặp một anh chàng
Vận ích kỷ, nhẹ dạ, dở chịu dựng th́
chúng ta không thể an tâm khi đọc xong truyện ngắn
này v́ chúng ta sẽ lo sợ anh tự tử v́ khó kham
nhẫn trước số phận bị bỏ rơi
của ḿnh. Anh chàng Vận ở đây được lư
trí và ḷng vị tha soi sáng nên anh sống an phận một
cách hồn nhiên, không cố gắng. Độc giả
cảm phục anh dù anh có kéo cờ trắng đầu hàng
số mệnh khốc liệt trái ngang của anh; nhưng
cuộc đầu hàng ở đây không bị người
đời cho là yếu hèn nhục nhă mà là một thái
độ quên ḿnh để chia sẻ niềm vui của
tha nhân.
Cuộc sống gay go bất trắc
thường bộc lộ bản năng của hai
hạng người. Hạng đầu th́ oán trời,
trách đất, thù hằn người đời và đôi
khi nhúng tay vào tội ác để báo phục cái thua
thiệt của ḿnh. C̣n hạng sau th́ biết tự
chế để t́m lối thoát trong hoàn cảnh bế
tắc. Và hơn nữa họ đem cái Thiện trị
cái Ác ; họ biết vui với cái may mắn của tha
nhân. Trong pháp môn Tứ Vô Lượng Tâm của Phật giáo
là Từ, Bi, Hỷ, Xả th́ họ đạt
được cá tâm thứ ba tức là Tâm Hỷ. Họ
t́m ra cái hạnh phúc của chính ḿnh trong cái hạnh phúc
của kẻ khác để soi sáng lư tưởng của
ḿnh. Vận đạt được cái Tâm Hỷ ấy
dù tác giả không nói anh có tu theo pháp môn Tứ Vô
LượngTâm hay không. .
* Truyện ngắn T́nh Già nói lên cái đam mê
ám ảnh của một nhân vật tên Lân, 55 tuổi, quê
làng Nhơn Trạch thuộc thị xă Vinh, hiện đang
định cư trên đất nước Hợp Chúng
Quốc, và được thành công về phương
diện sinh cơ lập nghiệp. Vào thời trẻ trung,
khi đi đại tiện ngoài đồng, đuơng
sự thường bắt gặp cô thiếu nữ tên
Hoàng ngồi phóng uế, quần cô trật ra, phơi bày cái
mông trắng nơn. Do đó mà h́nh ảnh cái mông đẹp kia
chiếm một khoảng quá rộng trong tâm tư, trong
nội giới ông ta suốt gần nửa chặng
đời.
...
Năm mươi lăm tuổi qua nhanh như giấc
mộng. Lại hơn nửa đời người mà ông
Lân vẫn chưa có người hôn phối, quả là
việc làm ông càng lo lắng hơn. Mộng không thành ở
lứa tuổi thanh xuân đă gậm nhấm những
ước mơ để tạo cho ḿnh một
đời sống ngừng lại và ổn định.
Cộng mối t́nh thời mới vừa lớn lại
dở dang làm ông điêu đứng mấy chục năm.
Ước
ǵ bây giờ xem lại được mông của con Hoàng !
Ông nói như rít một ḿnh. Xem mông của con Hoàng th́ không có
ǵ thích bằng. Tổ cha chỉ ghét mấy thằng phu
đi nhặt cứt làm sao mà sớm thế! Phải ôm
đít mà chạy cả lũ. Nhiều buổi sáng chưa
được xem ǵ cả!. Những ngày ỉa
đồng xa xưa, và cái mông trắng toát ngày ấy ông Lân
lấy làm tiếc c̣n hơn công danh ông không đạt
được trong tuổi đời. Và chắc chắn
cái mông cô Hoàng ngày nào bây giờ sẽ không bằng cái mo cau
khô của một bà già đang giữ cháu cho đứa con
gái đi làm ở làng Nhơn Trạch, Nghệ Tĩnh xa
xưa. Ở Mỹ mấy năm mà khi nghĩ về t́nh
yêu thời niên thiếu ông Lân đă không nghĩ ǵ khác
hơn được ngoài những ngày đi ỉa
đồng để xem đít con Hoàng.
(các trang 167, 168)
Vậy là ông Lân t́m về thăm làng Nhân
Trạch. Cảnh vật đổi thay, khác với t́nh yêu
do niềm si mê hóa thân của ông. Ôngchẳng t́m về
kỷ niệm nào khác hơn cái mông trắng toát của cô
Hoàng. Nó trở thành một h́nh ảnh da diết thân
thương trong tâm tưổng ông; ngoại cảnh
của địa danh Nhơn Trạch không dội vào tâm
thức ông những dao động ǵ nhiều.
Con
đường làng ngày xưa rộng thênh thang giờ c̣n
chỉ đủ cho hai người đi song song .
Tượng Đức Mẹ ngày đó được
cất thành kính trang nghiêm trên vuông đất rộng răi,
giờ mái bếp của nhà ai đă tiếp sát vào lưng
người. Chính bức tượng cùng chung gánh vác
những biển dâu thay đổi của trần thế!
Ngôi trường ngày xưa ông học giờ vẫn c̣n y
nguyên. Vẫn cũ kỹ và không lớn hơn một chút
nào, nhưng sao trẻ con đâu mà đông thế? Ngày
xưa làng đă không đủ lớp cho bọn học tṛ
như ông để học. Giờ con nít chạy
đầy như ong vỡ tổ th́ lấy ǵ mà đàn
đúm chữ nghĩa cho nhau đây?...
(trang 170)
Ông Lân gặp lại một bà Hoàng ốm
yếu, tay bồng đứa cháu ngoại. Ngoài ra c̣n
một lũ cháu khác, thấy khách túa ra xem. Sau đây là câu
chuyện giữa hai người:
-- Cám
ơn Hoàng tôi vẫn mạnh. Trở về lại đây
chỉ v́ tôi muốn thăm lại
Hoàng! Gần bốn mươi năm c̣n ǵ!
Bà
Hoàng khóc. Mấy đứa nhỏ đă ra sân giờ nh́n bà
ngoại khóc lại ṭ ṃ đứng ngay cửa ra vào
để nh́n vô hai người. Đứa cháu trên tay
thấy bà ngoại khóc nó lấy tay vuốt nước
mắt cho bà.
-- Anh được mấy
mụn con rồi? Chị nhà đang ở Mỹ? -- Anh
vẫn chưa có vợ th́ nói ǵ đến chuyện có con.
-- ! ?
-- Hoàng, tôi muốn hỏi
thật Hoàng một câu. Và Hoàng phải trả lời
thật với tôi. Đồng ư chứ?
-- Đồng ư.
-- Ngày xưa tôi yêu Hoàng chắc
Hoàng đă biết. C̣n Hoàng có yêu tôi không?
-- Có.
-- Thôi như vậy là
đủ rồi. Tôi sẽ trở về Mỹ và
sẽ... cưới vợ.
-- Tôi cầu chúc cho anh.
Cưới xong có dịp anh lại dẫn chị về
đây để giới thiệu với tôi và bà con ở
trong làng.
(trang 172)
Nhưng ông Lân về Mỹ lo thủ
tục giấy tờ để cưới bà Hoàng,
để đem bà qua Mỹ. Câu chuyện cũng khá ly
kỳ. Bà Hoàng về làm vợ ông Lân chắc ǵ đem cái
mông trắng phau phau của ḿnh làm của hồi môn.
Nhưng ông Lân vẫn yêu bà, vẫn ghi khắc h́nh ảnh
cái mông đẹp năm xưa của bà vào tận chỗ
sâu kín của tâm tư ḿnh. Và suốt đời, ông chỉ
thờ phụng cái h́nh ảnh ấy.
Ngày xưa Lan Khai có viết một
truyện ngắn đại khái là anh chàng nọ say mê
một cô gái. Nhưng khi thấy cô gái tốc váy tênh hênh
để tiểu tiện th́ cái h́nh ảnh toàn diện
của cô ta bị cử chỉ phàm tục kia bôi rửa
cậu thả khỏi ấn tượng của y ta. H́nh
ảnh đẹp đẽ của cô ta trở nên nham
nhở, lem luốc. Trái lại, trong truyện ngắn Tàn
Cơn Mộng Ảo, đại thi hào Rabindranath Tagore
viết về một nàng công chúa của vương
quốc Hồi Giáo bên xứ Ấn Độ đă
chứng kiến một vi sa-môn thuộc Bà-la-môn giáo mỗi
sáng đọc kinh và trầm tư bên bờ sông Hằng
rồi tắm trong nước con sông thiêng kia. Nàng si mê
chàng, đeo đuổi theo chàng trong cuộc chiến
giữa hai đạo Bà-la-môn và Hồi Giáo cho tới khi
nàng già nua phai úa dung nhan, c̣n chàng th́ nghèo nàn yếu
đuối già khụ và đă có cháu nội rồi. Vậy
th́ một h́nh ảnh nào đó tuy tầm thường
hoặc thô tục mà vẫn có thể khuấy động
một cái mănh liệt sâu xa trong nội giới của
người ngắm hay ngựi bất chợt thấy
được. Riêng ở truyện T́nh Già, nhà văn Vũ
Nam kết luận:
Hóa ra
đôi khi những kỷ niệm thật nhỏ nhặt
vẫn có thể làm cho một người nào đó nhớ
hoài đến gần như đổi cả một
đời người chỉ đổi lấy những
điều nhỏ nhặt như thế. Nhưng hề
ǵ. Chẳng ai là không thương cảm cho tấm ḷng
thủy chung như nhất.
(trang 173)
* * *
Vũ Nam là mẫu người điềm
đạm, hiền lành. Hai đức tính đo hiện rơ
rệt ở văn phong và ở đường lối
cùng khuynh hướng văn chương của anh. Các nhà
văn bên nhà thơ Đức cũng khá phồn thịnh,
chẳng như: Mai Vi Phúc, Đan Hà, Tùy Anh, Huy Giang , Thế Dũng,
Lê Trọng Phương...(thơ), Thế Giang, Ngô Nguyên
Dũng, Thế Dũng, Vũ Nam, Lê Minh Hà, Hoàng Nga (văn).
Tuy nhiên, hiện giờ chỉ có Ngô Nguyên Dũng, Thế
Dũng, Vũ Nam (nam), Lê Minh Hà và Hoàng Nga (nữ) vừa có
chân tài căn bản lại c̣n dài hơi để đeo
đuổi văn nghiệp của ḿnh. Trong nhóm dài hơi
thừa sức ấy, Vũ Nam đi khoan thai, nhưng
cần mẫn và miệt mài nhất. Văn chương anh
không khua động để rồi sớm nở tối
tàn. Anh viét văn bằng phong thái đôn hậu, không
cần phô trương kiến thức, chữ nghĩa ǵ
ráo. Nhưng cùng với Thế Dũng anh có vốn liếng
đi và sốngvô cùng phong phú. Không uyên bác như Ngô Nguyên
Dũng, không tinh vi xảo diệu như Thế Dũng và
Lê Minh Hà, không truyền cảm thiết tha như Hoàng Nga,
nhưng anh dàn rải tấm ḷng nhân hậu bao la cùng
niềm chân thành hiếm quư trong mọi tác phẩm của
anh. Văn chương anh không cần màu mè riêu cua mà vẫn
đạt tới một nấc thang khả quan của
nghệ thuật. Và cùng với Ngô Nguyên Dũng, Thế
Dũng, Lê Minh Hà, Hoàng Nga, anh cộng tác với các tạp
chí văn chương có giá trị ở hải ngoại
như Văn, Gió Văn, Thế Kỷ 21, Làng Văn ( khi
nguyệt san này vào thời cực thịnh trong 5 năm
cuối của thập niên 80 cho tới 5 năm đầu
của thập niên 90). Cho nên anh không chôn vùi tên tuổi
ở các tờ báo lá cải và các tờ báo biếu
thuộc loại quảng cáo thương măi bá láp tầm
phào.